NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ HỒN Ở ĐÂU BÂY GIỜ ! |
|
Cuối năm 1972, chúng tôi lên đường đi Phú-Yên, dự Chiến-Dịch đợt 2. Mục-tiêu vẫn là giải-thích cho dân chúng hiểu rỏ Thỏa-Ước Paris và chính-sách của Miền Nam trong những năm sắp tới. Đoàn xe lặng-lẽ rời quân-trường trong nắng sớm. Qua đèo Rù-Rì, Đại-Lãnh, và vượt đèo Cả. Trên đèo, nắng nhạt và mây trắng về thật nhiều. Quang cảnh xa-lạ và huyền-bí. Trong xe có tiếng thở dài! Anh em đang nhớ nhà! Tôi... cũng vậy! Trăm ngàn ngọn sóng, đập vào chân đèo, tung bọt trắng...xa xa..! Ngọn sóng đời đang đẩy tôi đi về đâu? Trên con đường rợp bóng cây ngày nào, cô em có còn đứng đón xe buổi sáng đến trường? Có thấy vắng một gã sinh-viên tóc dài, ngồi trong quán cafe bên lề đường, nhìn cô với cái nhìn không được bình-thường cho lắm? Có lần, một mảnh giấy nhỏ được gởi tới quán cafe: "Người ta còn nhỏ lắm. Đừng nhìn người ta như vậy. Không thì tội lớn lắm đó!" Lời nguyền vậy mà linh-nghiệm! Gã kia có tội thật, và bây giờ bị đầy lên ngọn đèo quạnh-hiu đầy mây phủ này. Không phải chỉ mình gã. Có hơn trăm tên, ĐĐ 728, Khóa 4/72B, cùng bị đầy như gã. Mây đang giăng quanh ngọn ĐÁ BIA trên đỉnh đèo. "Vân hoành Tần Lĩnh, gia hà tại?" ............................................. Mây giăng ngọn Tần Lĩnh . Mây giăng ngọn ĐÁ BIA . Nhà ta ở phương nào? Xuống đèo, xe qua những cánh đồng lúa rộng, thuộc Đông Tác, Hiếu Xương. Những ngày cuối năm, cảnh vật ở đây yên-tĩnh và hiền-hòa. Chúng tôi xuống Chi-Khu Hiếu Xương. Ông Sĩ Quan của Chi-Khu đưa cả toán lại một căn phòng nhỏ đã được dọn-dẹp sạch-sẽ. Đang lay-hoay thu xếp thì một anh Cảnh-Sát viên vui-vẻ bước vào. - "Tôi tên Tư. Anh em về nhà tôi tắm rửa và nghỉ ngơi cho khỏe!" Không khách-sáo, chúng tôi hơn chục đứa, theo anh Tư về nhà . Đó là một ngôi nhà lớn 3 gian, kiểu xưa, với sân rộng, gần Chi-khu. Ông Bà cụ của anh, đón chúng tôi ở ngoài cửa: - "Các con cứ tự-nhiên. Coi đây như ở nhà!" Anh Tư chỉ vào tấm hình một ông Sinh-viên Sĩ-quan Thủ-Đức đang treo trên tường: - "Thằng em Út của tôi đang học ở Thủ-Dức. Tết này chắc nó không về. Má tôi nhớ nó lắm! Tôi hiểu! Bà cụ nhớ và thương người con trai phiêu-bạt phương trời xa. Cụ thương luôn chúng tôi, những thanh-niên trẻ, cũng rơi vào hoàn-cảnh giống như con cụ. Với chúng tôi, có lẽ bữa cơm hôm đó là một trong những bữa cơm ngon nhất đời. Bà cụ nhìn chúng tôi ăn uống đùa nghịch ồn-ào, thỉnh thoảng điểm một nụ cười. Mùa xuân năm này lòng cụ cũng sẽ ấm-áp hơn chút. Tôi xin cám-ơn gia-đình anh Tư, đã chia-sẻ không-khí hạnh-phúc của gia-đình anh với chúng tôi . Buổi tối cả đám nằm hút thuốc trên hiên nhà, nhìn nắng tắt trên hàng cây ngoài sân. Cuộc đời lúc nào cũng như ngày hôm nay thì đẹp biết mấy! Sáng hôm sau, ông Sĩ-quan ban 5 Chi-khu cho chúng tôi biết: "Các anh được nghỉ cho đến sau Tết. Tình-hình bây giờ hơi bất an!". Tôi ngạc-nhiên: "Hiệp-Ước sắp có hiệu-lực vào đầu năm tới. Có chuyện gì vậyTrung-úy?". Ông trầm-ngâm: "Các anh không biết ! Họ đang chuẩn-bị. Đợi đến Giao-thừa bất thần đánh úp. Khi Thỏa-Ước có hiệu-lực thì chỗ đó đã thuộc vùng kiểm-soát của họ rồi! Chi-khu đã xin tiếp-viện để đối phó. Các anh cứ thoải-mái nghỉ ngơi, qua Tết hãy hay!". Cả toán reo vui và chuẩn-bị đi Tuy-Hòa ăn Tết. Tôi bị bỏ lại vì phải theo ông Trung-úy ban 5 về nhà tìm tài-liệu về Hiệp-Định Paris để nghiên-cứu. Gọi là tài-liệu cho oai, chứ thật ra đó chỉ là mấy bài bình-luận cắt ra từ báo. Một ngày trước khi đi Phú-Yên, tôi gặp ông Huynh-trưởng Tiểu-Đoàn 2 quen, ở Câu-lạc-bộ Đông. Ông dặn: "Cậu phải nắm vững vấn-đề mới được. Phú-Yên ghê lắm ! Họ cho cán-bộ trà-trộn vào dân chúng, rồi đưa ra những câu-hỏi gây khó-khăn cho mình. Mục-đích là phản tuyên-truyền và làm mất mặt tụi mình!". Ở Pleiku tôi cũng đã bị họ làm như vậy. Hôm đó, cả toán do Nguyễn-Thành-Út dẫn đầu, kéo vào một ấp Thượng gần Biển Hồ. Trời đẹp, khung-cảnh hữu-tình, anh em bỏ đi ngắm mấy cô sơn-nữ bên bờ suối. Chỉ còn mình tôi trong lớp học với hơn 20 học-viên, đa-số là Thượng, và một ông Thông-dịch viên . Tôi dự định sẽ rút ngắn lớp học cho bà-con về sớm. Gần cuối giờ, có một ông già, đứng lên hỏi một lô những câu hỏi chi-tiết liên-quan đến Hiệp-Định Paris, làm tôi vô cùng bối-rối. May nhờ anh thông-dịch viên lanh trí nói lãng qua chuyện khác, cứu nguy, chứ không thì mất mặt cả đám. Tụi thằng Út đáng lẽ phải ở đây, để có gì còn tiếp ứng cho tôi. Vậy mà tụi nó bỏ vô xóm uống rượu Cần và xuống suối đùa-nghịch tán-tỉnh mấy em Thượng. Lần này cũng vậy, tụi nó bỏ tôi lại Hiếu-Xương một mình. Trưa hôm sau tôi xuống Tuy-Hòa. Đường Trần Hưng Đạo ngày gần Tết tấp nập Sinh-Viên Sĩ-Quan mà chẵng thấy đứa nào trong toán. Tụi nó trốn đi đâu? Tìm ai chứ tìm thằng Út thì dễ ! Chỗ nào có người đẹp là có nó! Tôi ghé vào cái quán nhỏ ven đường. Chị chủ quán vui-vẻ: "Thiếu-Úy uống gì?". Tưởng chị không biết, tôi nhắc: "Tôi không phải Thiếu-úy đâu. Tụi này mới là Sinh-viên Sĩ-quan thôi !". Chị cười: "Biết mà! Gọi vậy cho nó vui. Dân chúng ở đây mến mấy anh lắm!". Tôi hiểu tại sao rồi! Mấy đàn anh đi Chiến-dịch đợt 1 và tụi tôi đang ở đây, đã làm cho kinh-tế Tuy-Hòa phồn-thịnh. Quán Cà-phê, quán ăn lúc nào cũng đông-đúc mấy ông "Lính" Đồng-Đế! Cứ hỏi các anh xe ôm thì biết, mấy ông "lính" này không bao giờ trả giá. Leo lên xe là đi. Nhờ chị chủ quán, tôi bây giờ nắm vững tình-hình hơn chút xíu! Trần-Hưng-Đạo là con đường chính. Có 2 quán cà-phê nổi tiếng là Vị-Thủy và Thạch-Thảo. Rất nhiều Sĩ-quan trẻ của Tiểu-khu đang trồng "cây Si" ở đây. Tụi thằng Út chắc là đóng đô ở mấy chỗ này! Tôi ghé Vị-Thủy trước. Từ trong ra ngoài, đầy ắp Sinh-viên Sĩ-quan Đồng-Đế. Khói thuốc mù-mịt. Anh em đang say-sưa thưởng-thức nhạc, cà-phê, và cô chủ quán! Không có toán tôi ở đây! Tôi đụng Hồng trong một quán Bi-da gần Vị-Thủy. Hồng cho biết toán tôi đang ở khách-sạn Thừa-Thiên, và rủ tôi mồng một Tết tới nhà cô chủ tiệm bi-da ăn Tết. Thằng này khá thật! Mới tới Tuy-Hòa đã có "độ" rồi! Mà "độ" lớn nữa! Hồng-Vân, cô chủ quán bi-da tiễn hai đứa tôi ra cửa : - "Mai gặp hai anh ở nhà em!". Trưa mồng một, Hồng và tôi đến nhà Hồng-Vân. Một cô gái trẻ ra đuổi chó và mời hai đứa vào trong sân. Cô gái mặt thanh-tú, tóc xỏa đen duyên-dáng trong chiếc áo dài màu xanh nước biển. Màu áo của nử-sinh trung-học Tuy-Hòa. Không ngờ ở cái tỉnh duyên-hải nhỏ bé này lại có một người con gái dễ thương như vậy. Bỗng nhiên tôi nhớ đến chuyện ông Thôi-Hộ, đời Đường bên Tàu. Một ngày Đông, cận Xuân, ông đi lạc vào một xóm nhỏ ven chân núi. Thôi-Hộ gõ cửa một căn nhà đầu thôn, hỏi thăm đường. Người mở cửa là một cô gái thật đẹp. Mặt thanh, mày tú và đôi má đỏ hây-hây. Còn đỏ hơn cây Đào đang khoe sắc thắm trong sân. Mùa đông năm sau, ông tìm lại căn nhà cũ. Người đẹp không còn, chỉ còn cây Đào đang chào đón gió Đông! Thôi Hộ buồn quá, làm một bài thơ, dán lên cửa trước khi đi : "Khứ niên kim nhật thử môn trung." "Nhân diện đào hoa tương ánh hồng." "Nhân diện bất tri hà xứ khứ." "Đào hoa y cựu tiếu đông phong." Tản Đà dịch là : "Ngày này năm trước cũng nơi đây." "Mặt ngọc hoa đào má đỏ hây." "Mặt ngọc đi đâu mà chẳng thấy." "Hoa đào trước gió hãy còn đây." Không biết mặt ngọc của ông Thôi Hộ đẹp thế nào, chứ cô gái trước mặt tôi quá duyên-dáng, cạnh cây bông giấy đang đỏ rực trong nắng xuân. Hồng-Vân, từ trong nhà bước ra chào và gọi: "Bạch-Vân! Mời hai anh vào nhà!" A! Người đẹp tên Bạch-Vân! Tên cũng đẹp như người! Suốt buổi trưa hôm đó, tôi thù-tiếp ông bố và ông chú của Hồng-Vân. Chú của Hồng-Vân là Giáo-sư Việt-Văn Trung-học Tuy-Hòa. Ông hỏi tôi có thích thơ Hàn-Mặc-Tử không?! Tôi ngâm vài câu..! Ông ngâm vài câu..! Một già một trẻ rất tương đắc. Tôi đã đóng vai cây "đại liên" bắn không cho đối phương ngóc đầu lên được, để Hồng xung-phong chiếm mục-tiêu . Bàn bên cạnh, Bạch-Vân đang bị 2 ông Thiếu-úy Tiểu-khu Tuy-Hòa tấn-công. Một ông, khi nãy, Hồng-Vân giới-thiệu là anh họ. Còn ông kia là bạn cùng đơn-vị . Tôi thấy Bạch-Vân nhỏ bé và tội-nghiệp...! Nắng xuân đang rực-rỡ ngoài khung cửa, nhưng lòng tôi thoang-thoáng một chút phiền-muộn vô-cớ . Lúc chú Hồng-Vân mở tủ lấy chai ruợu thứ hai, tôi đã kêu khổ trong bụng mà không có cách nào thoái thác. Mà làm sao tránh được khi hai ông sĩ quan Tiểu-Khu đã nhất đinh hạ gục mấy tên Sinh-Viên Sĩ-Quan hào-hoa nhưng đáng ghét. Tôi tỉnh giậy thì trời đã về chiều. Mấy ly rượu ở nhà Hồng-Vân làm đầu nặng như chì và bụng cồn cào khó chịu. Khỏi cần nhìn trong gương tôi biết mặt mình lúc này đang đỏ như gấc. Tụi nó đi đâu hết, chỉ còn hai thằng hiền nhất toán là Long và Quốc. Hai con "Ma Rù Rờ" đang đọc thư nhà và mắt đỏ hoe. Tôi rủ hai đứa ra phố cho đỡ buồn: - "Tui bay phải làm quen một em Tuy-Hòa cho lòng bớt hiu quạnh." Thằng Long hỏi: - "Mày đi tối ngày. Có kiếm được em nào chưa?" - "Kiếm được rồi. Nhưng em không chịu tao." Mùa xuân năm đó có bao nhiêu anh Đồng-Đế xa nhà? Có bao nhiêu anh đã lần đầu: "Rũ áo phong sương trên gác trọ." "Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang." ************* Sau Tết chúng tôi trở lại Hiếu-Xương bắt đầu đi công-tác. Hiệp-ước Paris đã có hiệu-lực từ Mồng Một Tết. Nhưng ở những xóm xa phía núi, súng vẫn nổ, dân chúng vẫn mất-mát, điêu-linh. Chúng tôi tổ-chức những cuộc nói chuyện, thăm viếng thành-công ở những xã, ấp gần quốc-lộ. Càng đi sâu vào các làng trong xa thì càng vất-vả. Nhiều lúc phải có nghĩa-quân đi mở đường. Những nơi này không thể ở lâu được, chỉ đi qua cho có lệ rồi anh em quay về ngay. Một hôm chúng tôi vào một xã, mới được Biệt-Động-Quân chiếm lại. Tôi, Quốc, và Long được phân công vào nói chuyện, còn gọi là "Trà-Đàm", với hai ông bà già cuối xóm. Ông cụ ngồi hút thuốc rê trước nhà, mặt lạnh như tiền, không thèm ngửng đầu khi chúng tôi chào. Quốc không để ý đến thái độ của cụ, vẫn vui-vẻ hỏi thăm: - "Tết qua có gì vui không hả bác?" Ông già trả lời cộc-lốc: - "Vui gì được! Mồng một Tết, ngoài quận bắn "mọt-chê" vô đây. Không chết là may rồi." Lúc này tôi mới để ý thấy một đám cây cối đổ rạp phía sau vườn. Quả đạn, có lẽ là cối 81 ly, còn hất tung một đám đất đá ra đầy sân trước. Long và Quốc không nói gì, mỗi đứa cầm một cây chổi ra quét trong sân. Tôi thấy ánh mắt ông già dịu bớt sự hằn-học. Một lúc sau, có lẽ nhận thấy thái-độ của mình hơi quá đáng với kẻ hậu-bối, ông già mời chúng tôi vào trong nhà uống trà. Đây là một căn nhà nhỏ, vách đất, mái lá cũng như các nhà khác trong xóm. Có điều đặc-biệt là trên tường đầy những câu-đối và liễn đỏ viết chữ Hán. Thấy tôi chăm-chú nhìn lên tường, ông cụ hỏi: - "Cứ mỗi dịp xuân về, tôi lại viết và treo những câu-đối Tết đầy nhà. Cố giữ phong-tục, tập-quán hay của cha ông ngày xưa. Chỉ tiếc là đám con cháu sau này vọng ngoại, đua đòi theo những thói xấu của Tây-Phương. Cậu biết đọc chữ Hán không?" Tôi cười: - "Chữ Hán của cháu viết không đầy lá mít. Nhưng cháu có thể đoán mò được chút ít. Chẵng hạn như mấy chữ này. Cháu chỉ nhận được hai chữ là "Xuân" và "Thảo". Để cháu đoán thử xem." Và tôi đọc: "Xuân du phương thảo địa." "Hạ tẩm lục hà trì." "Thu ẩm Hoàng-Hoa tửu." "Đông ngâm Bạch-Tuyết thi." Bốn câu thơ này của cụ Nguyễn-bỉnh-Khiêm đời hậu Lê, tạm dịch là: "Mùa xuân đi chơi phía những bải cỏ xanh." "Mùa hạ tắm ao sen thơm ngát." "Mùa thu uống rượu cúc Hoàng-Hoa." "Mùa đông ngâm thơ ca ngợi Tuyết trắng." Không thấy cụ Nguyễn-Bỉnh-Khiêm nói mùa nào thì phải ra đồng đi cày. Ông già gật đầu nhè nhẹ ra vẻ ngạc-nhiên. Cụ không thể nào biết được rằng, ba anh lính Cộng-Hòa trước mặt cụ, mới chỉ hơn sáu tháng trước đây còn là ba sinh-viên của Đại-Học Văn-Khoa Sài-Gòn. Cũng vì vận nước nổi trôi nên mới lưu lạc đến chỗ này. Câu truyện có thể còn kéo dài nếu không có anh nghĩa-quân chạy vào gọi: - "Trưa rồi. Mình phải về. Ở đây lâu không tốt." Được nghỉ, anh em lại kéo về Tuy-Hòa. Sau Tết sinh-hoạt đã trở lại bình thường. Tôi gặp lại hai cô Vân trên phố. Bạch-Vân quá đẹp với mái tóc cột bím và chiếc áo dài trắng. Sau này về lại quân-trường, trong những lúc trà dư tửu hậu, hay những lúc nghỉ ngoài bãi tập. Anh em bàn cãi sôi-nổi về chuyện ai là "Đệ-Nhất Mỹ-Nhân Tuy-Hòa". Đám thằng Đoàn, thằng Kính bầu người đẹp "Vị-Thủy". Tụi thằng Út, thằng Hổ lại bầu em "Thạch-Thảo". Tôi nghĩ thầm trong bụng: "Chỉ Bạch-Vân mới xứng đáng tước-vị đó thôi !" Hồng-Vân "chọc-quê" tôi : - "Anh hôm nay trông hiền hơn bữa Tết." Tôi chống đở : - "Tại hôm đó tôi uống hơi nhiều. Bình thường thì tôi dễ thương lắm." Chúng tôi tạt vào một quán nước gần đó. Hồng-Vân hỏi : - "Anh biết hôm đó ai đưa anh về không?" Tôi cũng đang thắc-mắc về chuyện này. Hỏi Hồng, nó trả lời ấm-ớ: "Bữa đó vui quá, tao không nhớ gì cả. Chỉ biết là khi về, tao kiếm mày, thì không thấy mầy đâu." Mồng Một Tết, không có xe ôm. Tôi không thể bò từ nhà Hồng-Vân về phòng trọ được. Vậy thì là ai? Thấy tôi lúng-túng, Hồng-Vân tiếp : - "Anh có tin là hai đứa em đưa anh về không? Một đứa lái xe, một đứa ngồi sau giữ cho anh khỏi té." Từ trước tới giờ, trong chuyện Tàu, chỉ có "Anh-Hùng cứu Mỹ-Nhân". Đằng này lại là "Mỹ-Nhân cứu Anh-Hùng". Tôi bị quê quá, vội chữa thẹn : - "Vậy hả ? Cám ơn hai cô. Chắc là ở nhà cô, ai cũng chê tôi hết phải không?" Bạch-Vân lắc đầu cười : - "Không đâu! Chú em cho anh điểm cao lắm. Còn trẻ mà biết nhiều về thơ. Nhất là thơ Đường." A ! Vậy là có chút hy-vọng rồi ! Dẫu sao tôi cũng là Sinh-Viên Sĩ-Quan Đồng-Đế, Trung-Đội 3, ĐĐ 728, chứ đâu phải thứ thường. Thằng Quang, trợ-huấn-cụ, rất hãnh-diện về Trung-đội 3 này. Tôi lên tinh-thần: - "Vậy Bạch-Vân thì sao? Từ 1 tới 10, Bạch-Vân cho tôi mấy điểm?" Cô nhỏ đỏ mặt : - "Nếu anh không uống rượu, thì được 3 điểm." Nắng đã lên cao ngoài kia. Tôi nghe một cãm giác thật êm-đềm đang nhen-nhúm trong lòng. Có con chim nào hót thật hay trên ngọn cây trước cửa quán! Tôi không tin là hai cô Vân đã đưa tôi về hôm Tết. Hai cô tiểu-thư của Tuy-Hòa làm sao dám chở một anh chàng lông-bông, say rượu như tôi trên phố vào ngày Tết. Hồng-Vân chỉ chọc tôi cho vui. Bởi vì Phú-Yên nói chung, dân chúng rất bảo-thủ và tinh thần Nho giáo vẫn còn cao. Ảnh-hưởng của quân đội ngoại quốc rất ít ở đây. Ngoại trừ phi-trường Đông-Tác và cầu Đà-Rằng. Tôi nghe nói lúc đầu người Mỹ có ý định biến phi trường Đông-Tác thành phi trường cho B52. Dân địa-phương đã chống đối mãnh-liệt và B52 đã phải dời sang Utapao, Thái-Lan. Quán Vị-Thủy đã trở thành nơi đóng đô của đám 729 và tụi thằng Đoàn. Còn Thạch-Thảo bây giờ trở thành chỗ tụ-tập và liên-lạc cho anh em trong toán thằng Út. Chúng tôi tới nhà Qui, cô thâu-ngân kiều-diễm của Thạch-Thảo, ăn cơm rất nhiều lần. Mẹ của Qui coi đám tụi tôi như người nhà vậy! Trong những năm lưu-lạc, phong-trần về sau, nhiều lúc tôi đã nghĩ về những người Phú-Yên tốt bụng này. Lòng vẫn luôn cầu chúc cho họ gặp được may-mắn, bình-yên, trong khi cuộc chiến càng lúc càng khốc-liệt. Lúc chúng tôi nhận được lệnh trở về quân-trường là lúc buồn nhất. Khi tôi đi gặp Bạch-Vân để giã-từ, thằng Út xúi anh-em: - “Đây là dịp cuối. Tụi bây cứ ôm em hôn đại đi.” Không biết có đứa nào nghe theo thằng Út? Còn Bạch-Vân, với tôi là áng mây trắng tinh-khiết lơ-lững giữa trời. Tất cả anh em tụ tập để lên xe ở bãi đất trống gần Tiểu-khu. Đoàn xe chầm-chậm qua đường Trần-hưng-Đạo, ra quốc lộ để xuôi Nam. Thấp-thoáng đó đây những đôi mắt buồn, kín đáo nhìn với theo đoàn xe . Đêm nay có cô em Phú-Yên chợt thức giấc nửa khuya, sẽ thấy lòng mình sầu vời-vợi...! Sẽ thấy : “Vầng trăng ai xẻ làm đôi." “Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường." Ngọn Chóp-Chài mờ dần... rồi khuất hẳn phía sau. Xe xuống đèo Cả, về lại Nha-Trang . Khi nắng chiều đã phủ xuống khắp núi rừng, có anh Đồng-Đế thấy lòng bâng khuâng, mới hay rằng mình đã để quên một nửa hồn..., bên kia đèo ./ Nguyễn-Thế-Hồi - ĐĐ728 Chiến-Dịch Ở Tuy-Hòa |