Kỷ Niệm Ngày Mãn Khóa - KHÓA 4/72B |
Quý bạn Đồng Khóa rất thân mến của tôi! Thấm thoát mà đã 37 năm! Khoảng thời gian đủ dài để trí nhớ bắt đầu cùn mằn và kỷ niệm cũng dần dà mờ nhạt. Chuyện vui buồn của thuở quân trường thì ai cũng có. Mỗi người trong chúng ta đều có một ngăn ký ức để lưu trữ và trân trọng. Từ ngày đầu cho đến ngày cuối, mỗi ngày là một bước cách xa mảnh đời yên ấm, hồn nhiên của thời dân chính và của tập vở học đường để thấy mình tiến gần hơn nữa về phía nghiệt ngã của khói lửa chiến chinh. Tuy vậy, con người vốn dễ thích ứng với hoàn cảnh nên ngày qua ngày, những bỡ ngỡ ban đầu đã nhường chỗ cho tâm trạng dấn thân và chấp nhận qua những buổi tập luyện tại bất cứ nơi đâu, ngày đêm hay mưa nắng. Kỷ niệm thì đầy dẫy mà ký ức thì cùn mằn theo thời gian, nên hình ảnh nhiều khi lộn xộn và ngày tháng cũng nhạt mờ như có màn sương che chắn. Tuy vậy cũng vẫn nhớ vô vàn những bè bạn quân trường cùng những hình ảnh đậm nét như in trong tâm não cho dù đã qua nửa đời người và vô vàn dâu bể. Làm sao quên buổi sáng đầu tiên đặt chân lên bãi cát của Trại Tiếp Nhận!? Câu hỏi “ sấm sét “ của một lá phổi quân trường cứ vang vọng không nguôi mỗi lần nghĩ tới Đồng Đế của ngày đầu…hội nhập : “ Có ai biết đây là đâu không ? “ Câu hỏi dẫn tới 20 cái hít đất của Nhữ Văn Dân Qúy, tức “ Qúy mát “- một tuần sau đó là Tân Khóa Sinh thuộc Đại Đội 727- đã đi vào lịch sử Khóa 4/72B. Lại một cái đầu tiên khác của ĐĐ 727 làm tôi cảm thấy…lo lắng! Đó là anh bạn Tiêu A Lam- cũng của ĐĐ 727 là người đầu tiên của Khóa 4/72B té xỉu vì không chịu được cơn nắng …sáng của Đồng Đế khi cả Tiểu Đoàn 3SVSQ ra mắt Tướng Võ Văn Cảnh trong ngày đầu nhập khóa huấn luyện. Nhìn anh bạn to con, trông rất ngầu hầm nhưng lại bị chảy máu cam ( do đứng lâu ngoài nắng ) được dìu về “Sam”, mà tôi vừa tội nghiệp cho bạn vừa thầm nghĩ tới mình vốn chỉ đứng cao tới lỗ tai của anh bạn gốc…Tiều này! Tuy vậy rồi cũng quen dần với câu “ Thao Trường đổ mồ hôi “ và chỉ sau vài tuần là tôi cùng Lâm Hoài Nam xin chuyển qua Trung Đội 4 để sinh hoạt với các bạn gốc Đà Lạt . Đại úy Trương Tấn Anh chọn Nam ngay lập tức, còn tôi thì phải chờ tới lúc một anh bạn lên cơn xuyển không vác đạn nổi, mới được ông Anh cho đổi qua Trung Đội 4 ( sau nhiều đêm ông âm thầm nhìn tôi dợt vài chiêu thế với Huỳnh Đình Cường bên hông doanh trại) để người bạn đó qua thế tôi bênTrung Đội 1. Chuyện quân trường kể hoài không hết vì mỗi ngày là một chương mới của đời Tân Binh và mỗi người là một ốc đảo riêng biệt được liên kết bởi những kỷ luật của Quân Trường và Quân Đội. Nói đến ốc đảo thì tôi nhớ ngay tới anh bạn có biệt danh là Đỉnh “ lùn “. Người bạn thi sĩ của thời góp mặt trong cùng một Thi Văn Đoàn với tôi 3 năm về trước( mang tên Nhóm Văn Nghệ Đan Tay ) hoàn toàn khép kín trong nội tâm của chính mình. Rất hiếm khi thấy Đỉnh góp chuyện. Họa hoằng lắm mới có một nụ cười. Nhưng anh bạn có chiều cao rất khiêm nhượng này không hề làm mích lòng một ai, cũng không phiền lòng ai về bất cứ điều gì, kể cả khi biết bạn bè hay xì xầm về thước tấc và “ dung nhan không có mùa xuân “ của mình. Trái ngược với Đỉnh, là “ những gương mặt của đám đông “ như Lương Tấn Hồng- còn gọi là Ngựa Trời- do tướng đi xà bát và thân hình cao lêu nghêu của anh bạn chưởi thề như…uống nước này. Ồn ào không kém Ngựa Trời còn có Xuân “ bánh mì đường “, Hùng “ xùi “, Thái “ rỗ “, Kiệt “ xì ke “ đặc biệt là hai bạn tên Cường, thuộc Trung Đội 1: Cường “ Pilot “ và Cường…” Tập Họp “. Một người thì có mộng lái máy bay ( nhưng sau cùng chỉ ôm cánh hoa dù để làm Thiên Thần Mũ Đỏ ) còn người kia thì buồn tình cứ hô hoán lên hai tiếng “ Tập Họp “ làm bà con có lúc phóng nhanh xuống giường để rồi ai nấy buột miệng chưởi thề trong tiếng cười xòa khi biết mình bị…xí gạt! Mùa Chiến dịch giải thích Hiệp Định Paris bắt đầu từ ngày 19/11/1972 và kết thúc vào 31/3/1973 chia ra làm hai giai đoạn, với một tuần về lại Đồng Đế để thảo luận và bổ túc kế hoạch. Mấy tháng xa kỷ luật và sinh họat quân trường đủ làm cho các Sinh Viên Sĩ Quan gần nhau và thân nhau hơn khi gom thành từng nhóm nhỏ để sinh hoạt với địa phương ( đa số ở cấp Quận ) Cả hai đợt “ ra quân “ đều có chuyện không may. Đặc biệt là tai nạn “ giao thông “ thật hi hữu, xảy ra tại con dốc Lương Sơn, Xã Chợ Lầu, Quận Hòa Đa ( Bình Thuận ) giữa chiếc L19 và GMC chở tóan “ Hòa Đa “ gồm 20 mạng của chúng tôi. Toàn bộ tai nạn xảy ra như một khúc phim chiếu chậm ngay trước mắt Xuân “ mì đường “ và chính bản thân tôi, vì chúng tôi ngồi giữa lòng xe, quay mặtt về phía sau, trên đống ba lô và sac marin của cả toán. Trong khi đó thì mọi người ngồi thọc chân ra ngoài thành xe, nhìn hai bên đường lộ để chờ về tới Hòa Đa sẽ vẫy tay chào những gương mặt quen biết, Quân cũng như Dân sẽ chào đón hai bên lề ngay trước quuận đường. Tất cả đều đội bê rê. Tất cả! Ngoại trừ SVSQ Nguyễn Văn L ý. Chiếc L19 xà xuống quá thấp, trong khi đó GMC lại đang lên dốc. Máy bay đột nhiên “ ho “ lên vài tiếng. Cánh quạt ngưng quay ngay lập tức. Chiếc “ đầm già “ lắc lư như để giữ thăng bằng rồi lướt qua xe GMC bây giờ đã ở ngay trên đỉnh dốc. Một tiếng “ RẸT “ nghe y hệt như tiếng róc mía vang lên khi cánh máy bay móc vào mấy khung sắt vốn để căng bạt làm mui đã được kéo lên xà xếp gọn sau lưng cabin xe, phía bên tài xế. Nhưng trước đó một tích tắc thì cánh sắt đã liếm ót Quách Mậu Hỷ đủ để anh bạn vui tánh này lạnh gáy, nhưng không hề hấn gì cả ( tay này ngồi quay mặt vào trong khung xe thay vì nhìn ra đường như các bạn khác) để rồi chém vào trán của Ngô Quốc Thắng, Nguyễn Duy Tân, vớt chiếc nón sắt của Nguyễn Văn Ly’( bạn này là người duy nhứt đội nón sắt ) rồi lại vớt tiếp vầng trán của Kiệt “ xì ke “ và của Sơn “ chẩu “. Máy bay lật úp bên kia đường. GMC đổ một đoạn dốc rồi mới ngừng hẳn lại. Toàn bộ các bạn ngồi phía bên kia không thấy và chưa biết chuyện gì xảy ra, họ chỉ biết máy bay rớt nên khi xe vừa dừng lại là ai nấy nhảy vội xuống đường lo chạy tới chiếc L19 để lôi phi công và quan sát siên ra ngoài. Vì nằm ngay giữa lòng xe và nhìn ra phía sau, nên Xuân “ mì đường” và tôi nhìn thấy tận tường những gì đã xảy ra. Trong khi mọi người lật đật nhảy xuống xe, chạy ngược về phía phi cơ, thì tôi và Xuân “ mì đường “ vừa đỡ các bạn bị thương, vừa qu ýnh quáng la lên ơi ới! Lâm Hoài Nam là người đầu tiên chạy trở lại phụ giúp chúng tôi băng bó cho những bạn bị thưong, kế đó là hai bạn nữa, tôi không nhớ rõ là ai. Ngô Quốc Thắng bị thương nặng nhứt: toàn bộ da đầu trên trán bị kéo hết qua bên phải để tạo thành một khối mỏng lét, bầy nhầy dồn cục, nằm xệ trên con mắt đã nhắm nghiền. Và vầng trán trắng toát một màu xương, da hay mỡ gì đó. Theo bản năng, Thắng đưa tay lên đầu để bụm vết thương, nhưng Lâm Hoài Nam gạt ngay ra. Lúc này máu mới rỉ chảy đầy mặt. Miếng băng cá nhân vưa đắp vội thì bạn cũng hôn mê ngay lập tức. Chúng tôi quấn băng cầm máu cho ba bạn còn lại. Các vết thương trên trán của những bạn đó nhẹ dần theo vị trí của họ ngồi. Nguyễn Duy Tân bị chém một đường cũng cỡ bằng ba lóng tay, ngắn hơn một chút là Kiệt " xì ke " và nhẹ nhứt là Sơn “ chẩu “. Chỉ riêng có Nguyễn Văn Lý thì không thấy vết máu mà phía sau ót lại sưng to, phồng lớn gần bằng một quả trứng gà. Chúng tôi đoán là khi bật ngửa ra phía sau thì Lý đập ót vào khẩu súng của ai đó không chừng. Mọi người, kể cả hai sĩ quan hoa tiêu và quan sát được một chiếc xe đò tải thương về bệnh viện Phan Rí Cửa để sau đó được trực thăng bốc về Quân Y Viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang. Hôm đó là ngày 19-01-1973, ngày toàn thể các Tiểu Đoàn SVSQ về lại Đồng Đế và cũng là ngày Sinh Nhật nhớ đời của chính tôi. Một tuần sau, các Khóa lại lên đường tham công tác CTCT. Đêm trước khi rời quân trường thì chúng tôi nhận tin bạn Lý qua đời. Các bạn khác đều đã tỉnh lại. Chuyện không vui của Khóa 4/72B không chỉ có vậy thôi. Còn nhiều chuyện đáng buồn khác mà diển hình nhứt là một bạn thuộc ĐĐ 728 đã tự kết liễu đời mình bằng một phát ngay tim vào một buổi sáng trong tuần lễ sau cùng của giai đoạn huấn nhục. Anh từ giã cõi đời có lẽ là vì không chấp nhận nhân phẫm bị coi thường khi có những hình phạt rất vô l y’ mặc dù đó chỉ là những hình thức chuẩn bị tinh thần và thể chất của người Lính để chấp nhận mọi hoàn cảnh. Ngoài những mất mát kể trên thì Khóa 4/72B còn có nhiều bạn “ không rớt Tú Tài mà vẫn phải ra Trung Sĩ “ vì nhiều nguyên do, trong đó có hai bạn thuộc ĐĐ 727 là Nguyễn Văn Của ( DS 007 ) và Nguyễn Văn Nam. Cả hai vi phạm kỷ luật quân trường rất nhiều lần và vắng mặt bất hợp pháp trong thời gian công tác CTCT nên đã bị sa thải khỏi Khóa ngay sau khi kết thúc đợt chiến dịch. Chuyện vui, và những kỷ niệm đáng nhớ của thời gian 10 tháng sinh hoạt với nhau cũng khá nhiều, nhiều lắm! Có thể nói là không thể nhớ hết. Dù vậy, lúc nào tôi cũng hình dung được những nụ cười hồn nhiên của các bạn cùng Đại Đội và những gương mặt có biệt danh được đồng đội đặt cho. Điển hình là Hoàng “ nhảy dù “. Anh bạn chuyên môn đi phá cờ thế ( lúc công tác tại Bình Định ) này ngủ gục nên rớt từ trên GMC xuống đường lúc từ bãi Tiên trở về. Rất may Hoàng chỉ bị mẻ răng và xây xát ngoài da mà thôi. Rồi còn “ Binh Ngố “ Tuyển, “ Răng Khễnh “ Nguyễn Duy Tân, " Khô Mực " Nguyễn Văn Tú , Dũng " Dracula ", “ Lùn Mã Tử “Nguyễn Ngọc Đỉnh…v/v... Mỗi người là một khung trời hồn nhiên của tuổi thanh xuân trót dấn thân vào định mệnh! Khác nhau về nhiều mặt nhưng lại gần nhau trong cùng một hoàn cảnh sinh hoạt, nên không thể không trân trọng những thời khác đã qua trong đời nhau. Ngày gắn “ con cá “ lên cầu vai, ngày gắn “ quai chão “ lên cổ áo, những buổi chiều đi phép Nha Trang trở về là những rộn ràng của bước chân diễn tập quanh vũ đình trường cho các bạn…có thước tất. Lần nào ra sân so hàng để chọn 81 mạng cho đội hình thao diễn thì đám “ lùn mã tử “ chúng tôi cũng đều bị loại. Khỏe re! Nhưng chưa hết! Vì có chân trong ban Văn Nghệ của Khóa nên toàn ban chúng tôi được miễn nhiều tạp dịch và trực gát, đặt biệt là trong lúc cả Khóa hì hục leo lên Hòn Khô ( rờ anh Cù Lần lấy hên! ) theo truyền thông gắn Alpha sau 8 tuần huấn nhục và trước đêm mang lon Chuẩn úy, thì anh em ban Văn Nghệ tà tà thức khuya…dậy trễ, rồi lội xuống Hội Trường dợt văn nghệ với nhau và với mấy cô nàng “ Cá Mối “ của Đại úy Kế, tức nhạc sĩ Anh Linh thuộc phòng Chính Huấn. Và khi bên ngoài tắt đèn để chuyển lửa từ Hòn Khô xuống Vũ Đình Trường thì chúng tôi cũng đứng lố nhố trong “ Sam “, vừa hé cửa sổ lén nhìn ra ngoài, vừa móc con cá ( lúc gắn Alpha ) hay quai chão ( lúc mãn khóa ) tự mình gắn lên áo cho mình. Nhắc tới văn nghệ là thấy nhớ Thái “ rỗ “ , Trung “ trống “ với những bản nhạc của CCR , Hiếu “ Ziên Hồng “ trong hoạt cảnh cầm loa làm Lính thú và “ Nghìn Trùng Xa Cách “ . Nhớ ba chàng “ Ngự Lâm “ của ĐĐ 727 ( Thắng , Tân, Nam ) cùng với ba nàng “ Cá Mối “ trong M ư a Sàigòn Mưa Hà Nội. Rồi tới anh Quyền, Trưởng ban Văn Nghệ , kiêm trưởng ban Báo Chí, kiêm trưởng ca đoàn công giáo và kiêm luôn tác giả bài “ Tiểu Đoàn 3 SVSQ Hành Khúc”. Đặc biệt hơn hết là nhớ “ cô Chương “, anh bạn mình dây ẻo lả như con gái của hoạt cảnh Tiếng Trống Mê Linh kiêm giọng hát mượt mà đầy kịch tính trong bài hát để đời “ Đêm Tàn Bến Ngự “ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước: “ …Hoàng hôn lá rơi bên thềm …“. Nhắc tới văn nghệ cũng làm tôi chợt nhớ ca đoàn công giáo của TĐ3 SVSQ do anh Quyền làm Ca Trưởng và nhiều giọng hát thật đặc sắc phụ giúp ( Một trong những bạn này là Nguyễn Duy Gia Định của ĐĐ 729 ) Một lần thâu thanh ngoài Nha Trang ( Mùa Phục Sinh 1973) Một lần tham dự rước kiệu Thánh Mẫu với họ đạo Ba Làng và những thánh lễ hàng tuần là những dịp “ khoe giọng “ của chúng tôi với người dân trong vùng, và cũng là dịp hít thở không khí “ tự do “ bên ngòai cổng quân trường. Đi phép cuối tuần cũng là một cái thú…lang thang cho qua thì giờ của đám “ con bà phước “ chúng tôi. Vì không có phép đêm mà chỉ có phép ngày ( 8 tiếng ) nên lần nào cũng vậy: quanh đi quẫn lại cũng chỉ là bi da, cà phê nhạc, hay xi nê trên phố Độc Lập hoặc các đường phố lân cận. Còn không thì mọi người la cà ngoài bãi Duy Tân ngồi ngắm trời xanh, sóng bạc, nắng vàng rồi …lim dim ngủ chờ tới giờ trở vào quân trường. Nha Trang là một thành phố biển và cũng là một thành phố Lính. Mùa Tổng Động Viên năm 1972 là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhứt màu áo tiểu lễ của Đồng Đế có dịp “ cạnh tranh “ với quân phục dạo phố của Hải Quân và Không Quân trong khoảng thời gian kỷ lục: suốt từ mùa hè 1972 cho đến mùa thu 1973! Rồi cũng đến lúc mỗi người một ngả. Buổi sáng sau đêm gắn lon chuẩn úy là một ngày hội của các quan…nhí! Mấy đơn vị nổi tiếng: Lực Lượng Đặc Biệt, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân tha hồ thuyết trình rồi xem giò xem cẳng các Chuẩn úy “ sữa “. Tiêu chuẫn chọn lựa thay đổi tùy theo binh chũng. LLĐB và Nhảy Dù chỉ lấy người nào cao 1mét 70 trở lên và phải …” không cận thị, không tay cáng giá, lổ đít phải có lông tề… “ ( để làm gì không biết!!! ). TQLC thì nhẹ hơn một chút: 1mét 65 trở lên và những tiêu chuẫn khác cũng y hệt như hai binh chũng kia. Riêng BĐQ thì vị Đại úy trưởng ban Tuyển Mộ chỉ từ tốn “ phán “ rằng : “ …Biệt Động Quân chúng tôi không cần cao lớn, không cần gì cả. Cận thị cũng được, nhỏ con càng tốt vì địch không thấy mình ở đâu để bắn tỉa. Chỉ cần đủ sức khỏe và chịu đánh giặc mà thôi!...” Có lẽ vì mấy câu này của vị Đại úy cao chừng 1mét 60 và cũng vì lúc lên chọn đơn vị, chỉ còn các Sư Đoàn và Tiểu Khu ngoài vùng 1 và 2 nên tôi đã không ngần ngại ghi tên vào khung dành cho BĐQ ở phía dưới cuối bảng. Tôi tốt nghiệp hạng 303 trên tổng số hơn 500 mạng ra trường. Lúc lên đứng nhìn bảng ( A ) danh sách thì tất cả những sư đoàn và Tiểu Khu trong nam ( Vùng 3 và vùng 4 Chiến Thuật ) đều hết chỗ, kể cả những Tiểu Khu nổi tiếng là ổ của Việt Cộng ( Kiến Hòa, Kiến Phong, Kiến Tường …) Chỉ còn một chỗ duy nhứt là ở Sư Đoàn 21 tại Bạc Liêu mà thôi. Chỉ trong vài giây phút là tôi quyết định trở thành “ con Mèo xì dầu “, phía bên kia ( bảng B ) là Lê Hùng Sơn cũng làm như vậy. Sau tôi là Kiệt “ mã tấu “ của ĐĐ 727 cũng chấp nhận làm “ Cọp Nhí “. Tổng cộng, nếu tôi nhớ không lầm thì Khóa 4/72B có trên 30 người tình nguyện ( ghi danh ) về binh chủng Biệt Động Quân. Người ta thường chế diễu những người như chúng tôi là bị “ Cọp liếm “ nhưng sự thật là chính chút tôi hạ bút ( mực đỏ ) ghi tên chấp nhận cuộc đời tác chiến sau này. Đại Đội 727 có tổng cộng 10 người là: Kiệt “ mã tấu “ , Kiệt “ xì ke “, Sơn “ chẩu “, Ước “ lùn “, Lê Hùng Sơn, Tiêu A Lam, Phạm Hồng Hưng, Nguyễn Văn Khoái, Trương Thành Tuấn Ngà và tôi cùng về BĐQ. Ngày giờ này, 37 năm về trước: ngày 26-06-1973 Quân Lực VNCH có thêm 540 tân Sĩ Quan. Các Chuẩn úy sữa ngày xưa bây giờ đã có người về cõi vĩnh hằng, đã có bạn mang hình hài thương phế. Tóc xanh ngày nào giờ đã điểm sương. Có người còn nơi quê nhà. Một số đang xa quê hương. Những dòng hồi ức này xin được gởi đến đồng đội Tử Sĩ để thay nén hương lòng thắp muộn để nhớ thời dấn thân vào cuộc chiến. Đồng thời đây cũng là những thăm hỏi ân cần nhứt của tôi đến qu y bạn đồng khóa: những chứng nhân ( và cũng là nạn nhân ) của lịch sử và thời cuộc nước nhà nhân ngày kỷ niệm lễ Mãn Khóa 4/72B năm xưa của Tiểu Đoàn 3 Sinh Viên Sĩ Quan. Tình thân HÙYNH VĂN CỦA |